Xét nghiệm vi sinh - nước tiểu

27/04/2017 02:530 Comments

Xét nghiệm vi sinh

Xét nghiệm vi sinh  là các loại xét nghiệm tìm căn nguyên gây bệnh nhiễm trùng, bằng chứng của quá trình nhiễm trùng bao gồm cả dịch bệnh. Như vậy đối tượng của các loại xét nghiệm này là các vi sinh vật gây bệnh ở trong các bệnh phẩm được thu thập từ người, môi trường sống, các loại dụng cụ, thức ăn... có khả năng liên quan đến căn nguyên nhiễm trùng.
 
 
 
Phạm vi áp dụng của các xét nghiệm này là trong chẩn đoán, theo dõi, điều trị, dịch tễ học, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, pháp lý.  Căn cứ vào phương pháp xét nghiệm chúng ta có thể chia ra các loại xét nghiệm vi sinh thành:

Xét nghiệm soi trực tiếp.

Xét nghiệm nuôi cấy.

Xét nghiệm miễn dịch.

Xét nghiệm sinh học phân tử.

1- Soi tươi: Các xét nghiệm soi tươi chủ yếu phát hiện các vi sinh vật di động , có giá trị với vi khuẩn giang mai, các xoắn khuẩn, các phẩy khuẩn tả, amibe. Ngoài ra soi tươi rất có giá trị chẩn đoán trong việc tìm trứng, các ấu trùng của ký sinh trùng, sợi và bào tử nấm. Trong các nghiệm pháp này các vi sinh vật đang còn sống.

2- Soi vi sinh vật qua nhuộm: Việc sử dụng các loại thuốc nhuộm khác nhau cho ta tên gọi các phương pháp nhuộm.

Các xét nghiệm này vi sinh vật đã được cố định (chết), cho phép ta nhận định được hình thể, tính chất bắt màu, cách sắp sếp, một số cấu trúc của vi sinh vật ( chủ yếu là vi khuẩn). Xét nghiệm này được quan sát dưới kính hiển vi quanh học là chủ yếu.

3- Soi vi sinh vật dưới kính hiển vi điện tử : Các quan sát dưới kính hiển vi điện tử hay dùng để soi các vi sinh vật có kích thước siêu hiển vi như virus. Các siêu cấu trúc của các vi sinh vật khác.

4- Giá trị của soi trực tiếp là: Trong đại đa số các trường hợp xét nghiệm này có tính gợi ý chẩn đoán, không có giá trị chẩn đoán quyết định.
 

 
Trong nuôi cấy soi trực tiếp là một công đoạn bắt buộc, từ bệnh phẩm nhằm tìm các vi sinh vật có tính chất định hướng và các tế bào viêm, từ khuẩn lạc nhằm tìm hình thể tính chất bắt màu, cách sắp sếp… cho những bước xét nghiệm tiếp theo, trong trường hợp này soi trực tiếp được coi là định danh ở mức độ ban đầu.

Giá trị chẩn đoán của soi trực tiếp rất cao và là tiêu chuẩn chẩn đoán vàng trong các trường hợp phát hiện vi khuẩn lao ( AFB, BK), phong ( BH), khi nhuộm kháng cồn kháng toan ( Ziehl – Neelsen), các song cầu khuẩn gram âm trong dịch não tủy là não mô cầu, trong dịch niệu đạo nam giới, dịch dữ mắt ở trẻ sơ sinh, là các vi khuẩn lậu. Ngoài ra trong các trường hợp soi dịch cổ tử cung tìm thấy hình ảnh nấm men cũng rất có giá trị chẩn đoán.

Trong các trường hợp này người ta nói các xét nghiệm có độ đặc hiệu cao.
Phòng khám đa khoa Thịnh An
Địa chỉ: số 88 dốc BV Phụ sản Hà Nội - Đê La Thành - Hà Nội
Số điện thoại liên hệ và đặt lịch khám:
04. 3.7754846
Số điện thoại tư vấn chuyên môn: 0915. 345. 539 (BS Sơn)

Xét nghiệm nước tiểu

Tổng phân tích nước tiểu thường được sử dụng trong các bệnh đái tháo đường, nhiễm ceton, đái nhạt, bệnh gan, mật, thận, bệnh viêm đường tiết niệu, đái máu... phát hiện sớm ngộ độc thai nghén.

Bình thường, trừ tỷ trọng và pH nước tiểu có giá trị cụ thể, các chất bất thường trong nước tiểu là những chất có nồng độ rất thấp trong nước tiểu, bằng các xét nghiệm thông thường không phát hiện được (âm tính-negative).
 

Tổng phân tích nước tiểu
 
Khi phát hiện được (dương tính, positive), chúng dược gọi là  những chất bất thường trong nước tiểu, có ý nghĩa lâm sàng.

Tỷ trọng(SG: specific gravity) 1.015-1,025.

Tăng trong: Nhiễm khuẩn, giảm ngưỡng thận, bệnh lý ống thận. Xơ gan, bệnh lý gan, tiểu đường, nhiễm (keton) do tiểu đường, tiêu chảy mất nước, ói mửa, suy tim xung huyết.

Giảm trong: viêm thận cấp, suy thận mạn, viêm cầu thận, viêm đài bể thận.

Bạch cầu (LEU) (Âm tính) Bạch cầu trong nước tiểu xuất hiện trong: nhiễm khuẩn thận, nhiễm trùng nước tiểu, nhiễm trùng không có triệu chứng, viêm nội tâm mạc do vi khuẩn.

Nitrit (NIT) (Âm tính) Nitrit trong nước tiểu xuất hiện trong: nhiễm khuẩn thận, nhiễm khuẩn nước tiểu, viêm nội tâm mạc, nhiễm khuẩn nước tiểu không triệu chứng.

pH (4,8-7,4): pH nước tiểu tăng trong nhiễm khuẩn thận (tăng hoặc có lúc giảm), suy thận mạn, hẹp môn vị, nôn mửa.pH nước tiểu giảm trong nhiễm ceton do đái đường, tiêu chảy mất nước.

Hồng cầu (ERY) (Âm tính): Hồng cầu xuất hiện trong nước tiểu khi: viêm thận cấp (ung thư  thận, bàng quang, sỏi thận, sỏi tiền liệt tuyến), viêm cầu thận, xung huyết thận thụ động, hội chứng K Wilson, hội chứng thận hư, thận đa nang, viêm đài bể thận, đau quặn thận, nhiễm trùng niệu, nhiễm khuẩn nước tiểu, nhiễm khuẩn nước tiểu không có triệu chứng, xơ gan viêm nội tâm mạc bán cấp, cao huyết áp có tan huyết ngoại mạch thận, tan huyết nội mạch có tiêu hemoglobin.

Protein (PRO) (Âm tính): Protein xuất hiện trong nước tiểu khi: viêm thận cấp, bệnh thận do đái tháo  đường, viêm cầu thận, hội chứng suy tim xung huyết, K Wilson, cao huyết áp ác tính hội chứng thận hư, bệnh thận đa nang, viêm đài bể thận, bệnh lý ống thận, cao huyết áp lành tính, viêm nội tâm mạc bán cấp.

Glucose (GLU) (Âm tính): Glucose xuất hiện trong nước tiểu khi: giảm ngưỡng thận, bệnh lý ống thận, đái tháo đường, viêm tuỵ, glucose niệu do chế độ ăn uống.
 

 
Thể ceton (KET: ketonic bodies) (Âm tính): Thể ceton xuất hiện trong nước tiểu khi: nhiễm ceton do đái tháo đường, tiêu chảy mất nước, nôn mửa.

Bilirubin (BIL) (Âm tính): Xơ gan, bệnh lý gan, vàng da tắc mật (nghẽn tắc một phần hoặc toàn phần, viêm gan do virus hoặc do ngộ độc thuốc, K đầu tụy, sỏi mật).

Urobilinogen (UBG) (Âm tính): Xơ gan, bệnh lý gan, viêm gan do nhiễm khuẩn, virus,  huỷ tế bào gan, tắc ống mật chủ, K đầu tụy, suy tim xung huyết có vàng da.

Soi cặn nước tiểu: Phát hiện các tế bào, trị niệu, ... trong viêm nhiễm thận, đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu, ...

Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu rất có giá trị trong việc chẩn đoán sớm nhiễm độc thai nghén cho các mẹ bầu (vì thế xét nghiệm nước tiểu là xét nghiệm bắt buộc đối với các bà mẹ mang thai ít nhất 1 lần 1 tháng) và những người có bệnh lý về đường tiết niệu. Đặc biết là có thể phát hiện sớm những bệnh lý về thận.
Đặt hẹn trực tuyến